Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

HỒI ỨC CỦA TÔI Ở TRUNG ĐOÀN 30

      Vào năm 1972 trung đoàn 30 làm nhiệm vụ mở đường, chạy ngày từ ngã ba LÙM BÙM, qua bãi đá TÀ LÙNG vào SÊ MĂNG HIÊNG. Đây là nơi quá ác liệt, máy bay mỹ quần đảo suốt ngày đêm. Sao mà cái bãi đá to mà dài đến vậy. Hàng ngày các chiến sỹ của tiểu đoàn 21 công binh phải chặt cây rừng làm dàn mướp thay lá mới liên tục cho nó tươi để tránh sự phát hiện của máy bay giặc.
      Cứ mỗi lần đi kiểm tra đoạn đường từ bãi đá TÀ LÙNG về, hai thủ trưởng cứ nói chuyện vui vẻ trên xe, chính uỷ thì rất hay cười còn trung đoàn trưởng cứ đăm chiêu suy nghĩ, rồi ông NHÂM nói: "Thật đúng là trung đoàn ba không anh THẢO nhỉ". Hai thủ trưởng lại cười. Đột nhiên chính uỷ hỏi tôi: "Cậu về lái xe con cho chúng tớ có sướng không?". Tôi chả biết nói thế nào mà khẽ cười vì bấy giờ thủ trưởng và lính nghiêm lắm chỉ biết nghe thôi.
      Tôi từ lái xe tải về lái xe con có nhiều bỡ ngỡ lắm...đúng từ đi lính có bao giờ được gặp và tiếp xúc với các thủ trưởng cấp trên đâu. Mỗi lần đi kiểm tra các đơn vị trong trung đoàn thì chiếc xe của tôi vừa đến là đồng chí cảnh vệ mở BARIE luôn, chẳng cần kiểm tra gì hết vì họ quá quen thuộc về chiếc xe của các thủ trưởng trung đoàn rồi, vì đi đến đơn vị nào cũng mang đầy ắp tình cảm, lòng thương chiến sỹ mà chính uỷ đến rất hay tặng quà, dù chỉ là mấy bao thuốc lá.
      Tôi nhớ mãi hôm đi kiểm tra đường sao hôm ấy máy bay Mỹ nó lại đánh ác liệt thế, đường tắc hỏng nhiều xe không đi được, các đơn vị phải lo thông đường đến gần tối xe mới đi được. Về đến trung đoàn bộ, chính uỷ gọi anh CÔNG tham mưu trưởng trung đoàn triệu tập cuộc họp ngay.  Tôi về nhà ăn cơm tối song anh VIỆT rủ "Lên nhà cụ THẢO đi" tôi nói các thủ trưởng còn đang họp. Thế là anh VIỆT quay điện hỏi THẾ công vụ "Thủ trưởng còn thuốc lá không cho tớ một bao". Buồn cười là chính uỷ đã về và cầm ống nghe ông cười và nói: "Ra các cậu thông đồng với nhau hút hết thuốc của tớ hả?". Anh VIỆT cuống quýt vâng dạ nhưng chính uỷ nói ngay: "Thôi lên mà lấy". Thế là anh VIỆT lại sai tôi đi lấy thuốc. Tối hôm đó mấy anh em được bữa thuốc lá thoải mái vì chính uỷ chỉ hút thuốc lào thôi.
      Giữa năm 1972, con đường qua bãi đá TÀ LÙNG bị lộ, máy bay đánh phá liên tục nên cấp trên yêu cầu trung đoàn 30 mở con đường tránh, thế là công việc lại bắt đầu bận rộn. Sau một tuần thi công, tuyến đường gặp ngay một dãy núi đá chắn ngang. Ngày hôm sau, tôi đưa thủ trưởng ra hiện trường mới biết đó là dãy núi PỜ LU TUYÊA mà con đường phải đi qua về CỐC MẠC. Thật là khó khăn. Yêu cầu không được đánh mìn để không làm gãy cây rừng thì đường mới không bị hở. Các thủ trưởng còn đang hội ý thì đồng chí DUNG cán bộ khảo sát trung đoàn về báo cáo: "có một cụ già bản LÀO biết con đường mòn mà dân bản vẫn đi làm dẫy qua mỏm núi đá đó". Thế là các thủ trưởng vui mừng hiện rõ trên nét mặt. Chính uỷ nói ngay đồng chí DUNG "cử ngay người cáng già bản đi theo con đường đó mà đánh dấu lại". Vậy là con đường lại tiếp tục thi công rất thuận lợi.
      Để tiến độ mở đường rút ngắn, các thủ trưởng yêu cầu phải có băng rôn khẩu hiệu cho khí thế lên ca. Chính uỷ nói: "anh BAN đã nghĩ ra chưa? theo tớ khẩu hiệu đó là: "CHỌC THỦNG PỜ LU TUYÊA; TIẾN QUÂN VỀ CỐC MẠC".
      Từ khẩu hiệu đến hành động, cả trung đoàn hừng hực khí thế. Chỉ trong vòng có vài tuần, con đường tránh đi qua dãy PỜ LU TUYÊA đã thông về đến CỐC MẠC từ đấy các đoàn XE - TĂNG - PHÁO rầm rập đi vào chiến trường. TRUNG ĐOÀN 30 lại đi mở con đường khác con đường 128B

Ngày 1 tháng  9  năm  2011
Hà Văn Phong




Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

NHỚ MÃI TRI ÂN

Quê tôi ở tỉnh BẮC GIANG
Sẽ chia tình cảm với làng tri ân
Tuy xa mà lại như gần 
Mỗi khi gặp,mặt,tình thân tuyệt vời 
Thầy TƯ,khuôn mặt ngời ngời 
Thầy TUÂN giọng nói như trời ban cho 
THẾ LAN năm liệu  mười lo 
Làm cho ,hội ngộ ,hát hò vui sao        
TÔ QUANG chất giọng ngọt ngào 
Gặp anh THANH DẠ thì tôi nao lòng 
Anh BIÊN chắc hẳn công đầu 
Còn anh MINH NGUYỆT hát câu quê nhà 
Chia tay hôm ấy hát ca 
Hẹn ngày gặp mặt đúng là TRI ÂN


ngày 27-8 -2011

ha v phong





Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

NHỚ LẠI MÙA XUÂN 1970 LÊN ĐƯỜG VÀO LÍNH

Như đại bàng dương cao đôi cánh
Bay đi xa,trong nắng bình minh
Khắp bốn phương trời trên đấi,nước mình
Cùng nối gót,theo chân,anh em tién bước
Biển bạc rừng xanh,mục tiêu phía trước
Ruộng đồng phì nhiêu,bát ngát chân trời
Bàn tay ta,xây dựng lấy cuộc đời
Chắc tay lái,vững tinh thần,ào ào,xốc tới
Thiếu thốn,bao nhiêu,đâu phải rào ngăn lối
Quần áo,TÔ CHÂU,chẳng xấu nét,hình hài
Đi đi thôi,vì hạnh phúc ngày mai
TO ĐEP ĐÀNG HOÀNG đó là lòi kêu gọi
Lý tưởng,niềm vui,sáng chói,lòng tin
Dân tộc,anh hùng và đảng quang vinh
Hội tụ,tất cả,bốn nghìn năm LỊCH SỬ
            
           Bắc Giang, ngày 24 tháng 8 năm 2011
                          Hà V Phong
        

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

HỒI ỨC CỦA TÔI Ở TRUNG ĐOÀN 30

  Tôi Hà Văn Phong, sinh năm 1950, quê Tân Thanh, Lạng Giang, Bắc Giang.
  Mãi đến năm 1970, đang học kỳ cuối của trường cấp 3 Lạng Giang, Hà Bắc.
  Thế là tôi vào lính. Năm tháng huấn luyện ở trường lái xe 255 ở Sơn Tây. Hết khóa đơn vị cho về nhà 15 ngày phép rồi lên đơn vị nhận tư trang hành quân ngay. Sau hai ngày tôi đã có mặt ở đường 20 Quyết Thắng, vuợt ngầm Tà Lê, đèo Phu Li Nhich, qua ngã ba đường 9, leo đèo Tham Mé vào đến kho C1- đơn vị tôi ở đấy.
   C31 D61 Binh trạm 33 làm nhiệm vụ vận chuyển tất cả những gì mà hậu phương gửi vào chiến trường. Từ đây ở tuổi 20 tôi mới hiểu thế nào là chiến trường, ác liệt quá. Lúc này đã đến tháng 10 năm 1970.
   Sau mùa khô năm 1971, con đường chạy đêm không hiệu quả, xe cháy nhiều, hàng mất lắm. Vì máy bay C130 của địch làm chủ bâù trời. Từ đó cấp trên chuyển hướng chạy ngày.
   Thế là tôi được điều lái một chiếc xe Zin 157, tạm biệt C31 D61 đến ngầm Xê Măng Hiêng trực kích kéo những xe bị đổ, rệ tại ngầm.
   Vào một ngày đầu năm 1972 có một đoàn cán bộ từ Bắc vào Nam chiến đấu. Gồm 5 xe Gát 69 đến ngầm lúc đó khoảng nửa buổi sáng. Mức nước ngầm Xê Măng Hiêng lúc nào cũng ở khoảng 0,75m. Vì thế Tôi phải ra kéo xe. Đúng lúc đó một máy bay F4 lao tới gầm rít, thấy tình hình có nguy cơ bị lộ, tôi đề nghị với đoàn kéo cả năm xe một chuyến để đảm bảo thời gian vượt ngầm. Không ngờ gần sang hết sông gần bờ Nam, có một cua tay áo nước chảy siết. Đúng lúc đó thằng F4 lao tới, tiếng gầm rít tưởng bục màng tai. Thế là chiếc xe cuối cùng bị rệ xuống nước sâu không sao lên được. Tôi hét lái phụ xuống cắt cáp ngay để kéo 4 chiếc lên, rồi luì xe lại mới kéo được chiếc xe rệ lên. Trên trời lúc này thằng F4 vòng đi vòng lại nhiều lần, may mà nó không phát hiện được.
   Đoàn cán bộ miền Nam vui mừng khen ngợi rồi chia tay Tôi và tặng một tút thuốc lá Điện Biên. Đoàn đi rồi Tôi mới biết đó là Trung Tướng Trần Văn Trà vào Nam chiến đấu.
   Ngay ngày hôm sau Tôi được điều về Trung đoàn bộ Trung đoàn 30 để nhận một chiếc xe con Gát 69. Hôm sau nữa đi chuyến công tác đầu tiên với Thủ trưởng và 3 cán bộ khác. Vì thời gian gấp phải đi không nói chuyện và hỏi han được gì, Tôi chỉ biết có anh Việt ở Ban xe máy, còn Thủ trưởng ngồi ghế trước chỉ thấy nói tiếng miền Nam.
   Đến hôm sau Tôi mới hỏi thăm anh Việt ở Ban xe máy Trung đoàn. Mới biết đó là Chính Uỷ Nguyễn Hữu Thảo.
  Anh Việt kể: "ÔngThảo và ông Nhâm khen mày kéo xe đoàn miền Nam qua ngầm hôm nọ, nên điều mày về Trung đoàn bộ đấy". Từ đó Tôi trở thành người lính trung đoàn 30.
                                             
                                                                      (Còn tiếp)

                                              Bắc Giang, ngày 29 tháng 7 năm 2011
                                                      Người viết: Hà Văn Phong